Chương 1252
Chương 1252: Tìm Mộ (6)
Thời gian là thứ thích hợp nhất để chôn vùi mọi bí mật. Huống chi năm xưa, người áo đen đã giết cả nhà, dời thi thể xuống đáy tháp, chẳng khác nào tự diệt môn phái.
Lý Truy Viễn cầm la bàn đi trong thung lũng, nhanh chóng xác định được vị trí.
Khi đến gần, cậu cảm nhận được cấm chế trận pháp vốn tồn tại gần đó đã biến mất.
Ở một bên vách núi có một cái hốc, cửa hốc bị một cây hòe già che khuất.
Cây hòe có vẻ như vừa bị sét đánh, cháy rụi hơn nửa thân.
Nhuận Sinh và Lâm Thư Hữu dọn dẹp một lúc lâu mới đào được cửa hốc.
Kèm theo đó là vô số hài cốt động vật và người. Rõ ràng, chúng đều là thức ăn của cây hòe già, bị bắt đến để làm chất dinh dưỡng.
Nếu không bị sét đánh thì khi đến đây, họ đã phải ra tay giải quyết nó trước rồi.
Lối đi trong hốc không hướng xuống mà nằm ngang. Chắc hẳn mộ tổ nhà người áo đen được xây trong lòng núi của thung lũng này.
Quy mô không lớn, trông như mộ của một gia tộc quý tộc nhỏ.
Ai mà ngờ được vị tổ tiên từng bày “Phi thăng đại cục” kia lại xây mộ cho mình đơn giản đến vậy.
Lý Truy Viễn đã đọc Tề thị xuân thu và am hiểu trận pháp, nên chỉ đoạn đường từ lối vào đến mộ thất chính thôi mà cậu đã nhận ra vô số cơ quan tinh xảo và trận pháp cao thâm còn sót lại.
Mộ tuy nhỏ nhưng sát khí bên trong lại khiến Lý Truy Viễn kinh hãi.
May mà mọi thứ ở đây đều diễn ra theo lời vị tổ tiên kia: Đến thời điểm thì cấm chế tự giải.
Nếu không thì dù Lý Truy Viễn muốn vào cũng vô cùng khó khăn. Dù có phá được cơ quan và trận pháp bên ngoài thì ai biết bên trong còn giấu bao nhiêu huyền cơ.
Người áo đen dựa vào huyết mạch tổ tiên để được hưởng ưu đãi từ quy tắc trong tháp cao ở bí cảnh.
Thực tế, trình độ trận pháp của hắn, hay ít nhất là trình độ khi hắn vào đây, còn kém xa Lý Truy Viễn bây giờ.
Lý Truy Viễn gần như chắc chắn rằng chuyện người áo đen nói “Vì ta là người chết nên mới vào được mộ tổ” hoàn toàn là bịa đặt.
Khi cấm chế còn nguyên vẹn thì không chỉ người chết mà ngay cả Bạch Hạc Đồng tử đến đây cũng có thể bị tước thần vị.
Trên đất và trên vách có rất nhiều thi thể đã khô thành xương. Chắc hẳn đó là tổ tiên các đời của người áo đen.
Tổ tiên của họ để lại lời nhắn: Chưa đến thời điểm thì không được vào mộ tổ.
Nhưng con cháu đời sau nào cưỡng lại được sự cám dỗ? Dù sao ai biết mình có sống được đến ngày đó hay không.
Và rồi họ chết ở đây, chết dưới cấm chế do chính tổ tiên mình tạo ra, trừ người áo đen.
Đàm Văn Bân: “Tiểu Viễn, anh có một nghi vấn.”
Lý Truy Viễn: “Anh nói đi.”
Đàm Văn Bân: “Có khi nào câu di ngôn của tổ tiên kia là cố ý không? Ông ta bảo con cháu đừng vào để sau này có chuyện gì thì ông ta không liên quan?”
“Ừ.” Lý Truy Viễn đáp rồi chỉ vào những dấu vết cấm chế còn sót lại: “Cả cái gọi là tự giải nữa. Em nghi không phải là để con cháu vào lấy quyển sách mà là để ông ta tự ra.”
Lâm Thư Hữu: “Ông ta sống ở đây lâu như vậy á? Vậy thì thành cái dạng gì rồi?”
Đàm Văn Bân: “Chắc chắn là không còn hình người nữa.”
Lâm Thư Hữu: “Không phải, ý tôi là, trong ngôi mộ nhỏ như vậy mà ở lâu như vậy thì khác gì bị giam cầm đâu. Ông ta chịu được à?”
Đàm Văn Bân: “Trong tháp cao, trong hố xác chết, trong ngọc phỉ thúy đều có người bị giam lâu như vậy đấy thôi. Có cái bánh thành tiên treo trước mặt, buồn thì hít hà một chút là qua được.”
Nói rồi, mọi người đi đến mộ thất chính.
Mộ thất chính không lớn, bày biện bên trong cũng rất bình thường, chủ yếu là đá.
Nhưng không có quan tài mà chỉ có một chiếc giường đá ở giữa.
Phía trên có một vết nứt, lúc này đang là giữa trưa, ánh nắng chiếu thẳng xuống giường đá.
Trên giường, ngoài đá và vôi ra thì không thấy thi thể đâu.
Lâm Thư Hữu: “Là tự bò dậy đi hay có người đến trước rồi?”
Đàm Văn Bân: “Cây hòe che cửa hốc là cậu với Nhuận Sinh dọn. Tuy trước đó nó bị sét đánh nhưng không có dấu vết bị động vào.”
Lâm Thư Hữu: “Vậy chẳng lẽ ông ta trèo ra từ cái khe trên kia?”
Mọi người đến trước khe nứt, nhìn lên trên. Khe rất hẹp và nhỏ, vách đá lại trơn nhẵn.
Người gầy và có khung xương nhỏ thì may ra còn nhét vừa, nhưng không có chỗ để bám víu mà trèo lên.
Nhuận Sinh sờ trán Đàm Văn Bân rồi lại sờ trán mình.
Lý Truy Viễn nhìn đá và vôi dưới giường, nói: “Chắc là tự chui ra từ trên.”
“Chui?” Đàm Văn Bân để ý thấy Lý Truy Viễn dùng từ “chui” chứ không phải “trèo”, lập tức ngẩng đầu nhìn khoảng cách.
Dù sao Nhuận Sinh cũng là người khỏe nhất ở đây.
Đàm Văn Bân nhìn Nhuận Sinh: “Nhuận Sinh, cậu chui nổi không?”
Đây là bên trong một ngọn núi của thung lũng, chui lên đến chỗ ánh nắng có thể chiếu vào thì dù đi vòng lên cũng đủ mệt rồi.
Lâm Thư Hữu dùng khinh công bay lên, chạm vào chỗ trơn nhẵn ở khe nứt rồi sờ vào vai mình: “Anh Bân, Tiểu Viễn nói đúng, đúng là tự chui ra!”
“Mẹ ơi, đây là quái vật gì vậy?”
Đàm Văn Bân: “Tôi chỉ đang kinh ngạc thôi chứ không nghi ngờ Tiểu Viễn. Không ngờ cậu cũng học được cách ly gián rồi đấy.”
Lâm Thư Hữu chớp mắt, không hiểu gì.
Đàm Văn Bân vỗ vai Lâm Thư Hữu: “Hôm nào bảo Đồng tử nhà cậu xuống làm người đi, cậu lên làm Âm thần đại nhân. Tôi thấy Đồng tử nhà cậu dạo này biết làm người lắm.”
Tuy Đàm Văn Bân cố ý nói đùa để giảm bớt căng thẳng nhưng chỉ cần nghĩ đến có một kẻ hình người có thể chui ra từ đá thôi là đã đủ rợn người rồi.
Lý Truy Viễn đẩy đá vụn và vôi trên giường, nhìn thấy một dòng chữ.
Nhìn dấu vết thì có vẻ như được viết bằng ngón tay trỏ:
“Hẹn ngày tái ngộ, duyên phận nửa mặt.”